Antimon pentoxit dạng keo là một sản phẩm chống cháy gốc antimon được các nước công nghiệp phát triển vào cuối những năm 1970. So với chất chống cháy antimon trioxit, nó có những đặc điểm ứng dụng sau:
1. Chất chống cháy dạng keo antimon pentoxit tạo ra ít khói. Nói chung, liều gây chết LD50 của antimon trioxit đối với chuột (khoang bụng) là 3250 mg/kg, trong khi LD50 của antimon pentoxit là 4000 mg/kg.
2. Antimon pentoxit dạng keo có khả năng tương thích tốt với nhiều dung môi hữu cơ như nước, metanol, etylen glycol, axit axetic, dimetylaxetamit và amin format. So với antimon trioxit, nó dễ dàng trộn lẫn với các chất chống cháy halogen để tạo thành nhiều chất chống cháy hỗn hợp hiệu quả cao khác nhau.
3. Kích thước hạt của antimon pentoxit dạng keo thường nhỏ hơn 0,1mm, trong khi antimon trioxit khó tinh chế thành kích thước hạt này. Antimon pentoxit dạng keo thích hợp hơn cho ứng dụng trong sợi và màng do kích thước hạt nhỏ. Trong việc cải tiến dung dịch kéo sợi hóa học chống cháy, việc thêm antimon pentoxit dạng keo có thể tránh được hiện tượng tắc nghẽn lỗ kéo sợi và giảm độ bền kéo sợi do thêm antimon trioxit gây ra. Khi thêm antimon pentoxit vào quá trình hoàn thiện chống cháy cho vải, độ bám dính của nó trên bề mặt vải và độ bền của chức năng chống cháy tốt hơn so với antimon trioxit.
4. Khi hiệu quả chống cháy như nhau, lượng antimon pentoxit dạng keo được sử dụng làm chất chống cháy là nhỏ, thường chỉ khoảng 30% antimon trioxit. Do đó, việc sử dụng antimon pentoxit dạng keo làm chất chống cháy có thể giảm lượng tiêu thụ antimon và cải thiện hơn nữa các tính chất vật lý và gia công khác nhau của sản phẩm chống cháy.
5. Antimon trioxit được sử dụng cho các chất nền nhựa tổng hợp chống cháy, điều này sẽ làm nhiễm độc chất xúc tác Pd trong quá trình mạ điện và phá hủy vùng mạ chưa được xử lý. Antimon pentoxit dạng keo không có nhược điểm này.
Do chất chống cháy antimon pentoxit dạng keo có những đặc tính nêu trên, nó đã được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm chống cháy như thảm, sơn phủ, nhựa, cao su, vải sợi hóa học ở các nước phát triển. Các kỹ sư từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ của UrbanMines Tech. Limited đã phát hiện ra rằng có nhiều phương pháp điều chế antimon pentoxit dạng keo. Hiện nay, hydro peroxide được sử dụng phổ biến nhất để điều chế. Cũng có nhiều phương pháp sử dụng hydro peroxide khác nhau. Bây giờ, hãy lấy một ví dụ: cho 146 phần antimon trioxit và 194 phần nước vào lò phản ứng hồi lưu, khuấy đều để tạo thành hỗn hợp phân tán đồng nhất, sau đó từ từ thêm 114 phần hydro peroxide 30% sau khi đun nóng đến 95℃, tiến hành oxy hóa và hồi lưu trong 45 phút, thu được dung dịch antimon pentoxit dạng keo có độ tinh khiết 35%. Sau khi dung dịch keo được làm nguội một chút, lọc bỏ chất không tan, sau đó sấy khô ở 90℃, có thể thu được bột antimon pentoxit ngậm nước màu trắng. Thêm 37,5 phần triethanolamine làm chất ổn định trong quá trình nghiền bột, dung dịch keo antimon pentoxit thu được có màu vàng và nhớt, sau đó sấy khô để thu được bột antimon pentoxit màu vàng.
Sử dụng antimon trioxit làm nguyên liệu để điều chế antimon pentoxit dạng keo bằng phương pháp hydro peroxit, phương pháp này đơn giản, quy trình công nghệ ngắn, chi phí đầu tư thiết bị thấp và tận dụng tối đa nguồn tài nguyên antimon. Một tấn antimon trioxit thông thường có thể sản xuất được 1,35 tấn bột antimon pentoxit dạng keo khô và 3,75 tấn dung dịch antimon pentoxit dạng keo 35%, giúp thúc đẩy sản xuất các sản phẩm chống cháy và mở rộng triển vọng ứng dụng rộng rãi của các sản phẩm chống cháy.






